Lương tăng thế nào từ 2012?:

13:02 |

(VTC News) – Theo đề án cũ, lương tối thiểu cho công chức, viên chức là 990.000 từ 2012. Tuy nhiên, tình hình thực tế có thể thay đổi.

Sẽ có một cuộc cải cách thực sự về tiền lương? 

Tăng cả lương và phụ cấp

Tại hội thảo về tiền lương tại Hải Phòng ngày 23/8, Đại diện Vụ Tiền lương, Bộ Nội vụ cho VTC News biết, theo đề án cũ, lương cơ bản của công chức, viên chức sẽ tăng từ 830 nghìn năm 2011 lên 990 nghìn năm 2012. Tuy nhiên, do lạm phát cao và lương tối thiểu của khối doanh nghiệp đã tăng nên Bộ Nội vụ có thể điều chỉnh phương án trên.

Cùng với lương, theo đề án giai đoạn 2008 – 2012, mức phụ cấp năm 2012 là 40%, năm 2013 sẽ là 50% (chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang). Tuy nhiên, tuỳ vào tình hình thực tế, Bộ Nội vụ sẽ xem xét đề xuất cho phù hợp.

Tại cuộc hội thảo này, nhiều ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia cũng đề xuất, mức lương khởi điểm cho những người tốt nghiệp đại học vào làm trong Nhà nước cần được nâng lên, đảm bảo khoảng 3 triệu/tháng.

Đại diện Sở Nội vụ tỉnh Nam Định đề xuất, cần điều chỉnh mức lương để công chức trước khi về hưu hưởng lương khoảng 7 – 8 triệu/tháng, để họ tự nuôi bản thân và nuôi được con cái, không phải dựa dẫm vào xã hội.

Về nguồn thu để tăng lương, theo ông Đặng Như Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội thì hàng năm, mức thu của ngân sách Nhà nước đều tăng, nên chưa hẳn đã là lo ngại, vấn đề là có cơ chế hợp lý.

Nhưng kể cả khi tăng lương, theo bà Lan Hương, Viện trưởng viện Lao động xã hội, với cách tăng đồng loạt bằng cách nâng lương tối thiểu thì chỉ những người có hệ số cao mới được hưởng nhiều từ chính sách này. Còn những người mới vào làm Nhà nước thì lương tăng không đáng kể. Vì vậy, các đại biểu đồng tình đề xuất, phải tăng hệ số lương cho nhóm đối tượng này.

Hai phương án điều chỉnh lương
Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trên cơ sở phương pháp xác định tiền lương khu vực hành chính dựa trên hệ thống nhu cầu của người lao động và độ phức tạp lao động của từng chức danh, có tính tương quan với thị trường để tăng tính cạnh tranh để thu hút người tài.

- Phương án 1: Quan hệ tiền lương tối thiểu (nhân viên phục vụ bậc 1) – trung bình (chuyên viên bậc 1) – tối đa (chuyên gia cao cấp bậc 3) theo cách tiếp cận tương quan với khu vực thị trường là 1 – 3,2 – 1,5. Tính theo mức lương tối thiểu 830 nghìn đồng/tháng thì có mức lương thấp nhất – lương trung bình - lương tối đa tương ứng là 830 nghìn đồng  – 2,656 triệu đồng – 12,450 triệu đồng/tháng.

- Phương án 2: Quan hệ tiền lương tối thiểu (nhân viên phục vụ bậc 1) – trung bình (chuyên viên bậc 1) – tối đa (chuyên gia cao cấp bậc 3) theo cách tiếp cận mức độ phức tạp lao động là 1 – 3,5 – 15. Tính theo mức lương tối thiểu 830 nghìn đồng/tháng thì có mức lương thấp nhất – lương trung bình - lương tối đa tương ứng là 830 nghìn đông – 2,905 triệu đồng – 12,45 triệu đồng/tháng.

Đối với các chế độ ngoài lương phục vụ hoạt động công vụ (tiền điện thoại, phụ cấp phục vụ, chế độ xe đưa đón công tác), sẽ xem xét không đưa vào mức lương cơ bản mà tiếp tục hoàn thiện các định mức và cơ chế khoán để dụng tiết kiệm, hiệu quả kinh phí quản lý hành chính.

Rừng Xanh Ấn Tượng Khó Phai !






Năm 2012, tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động :

12:59 |

(ĐCSVN) - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa ban hành Quyết định số 224/QĐ-LĐTBXH, ngày 27/02/2012 về chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2012, trong đó nhấn mạnh, trong năm 2012, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động.
Chương trình công tác đề ra các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Tạo việc làm cho 1,6 triệu người, trong đó: tạo việc làm trong nước 1,51 triệu người, xuất khẩu lao động 90 nghìn người. Cơ cấu lao động: nông nghiệp 46%, công nghiệp và xây dựng 23%, dịch vụ 31%. Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tranh chấp lao động. Tuyển mới dạy nghề 1,9 triệu người (tăng 2,78% so với thực hiện năm 2011).
Chương trình cũng đề ra chỉ tiêu: 98% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú; 97% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công; xây mới 10.000 nhà, sửa chữa, nâng cấp 6.000 nhà tình nghĩa; huy động Quỹ đền ơn đáp nghĩa 200 tỷ đồng.
Thực hiện các quyền của trẻ em, tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em: 82% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp; chăm sóc, giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn xuống 5,6% so với tổng số trẻ em; giám sát đảm bảo 100% trẻ em dưới 6 tuổi được tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà nước không phải trả tiền.
Đảm bảo sự bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội và gia đình. Tỷ lệ nữ trong tổng số lao động được tạo việc làm đạt 49%, trong tuyển mới dạy nghề đạt 45%. Giáo dục, chữa bệnh cho 3.000 đối tượng mại dâm, cai nghiện phục hồi 68.000 ngàn lượt người, tạo việc làm sau cai cho 9.000 người. Xây dựng, chuyển hóa thêm 1.000 xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội.
Bên cạnh đó, Chương trình cũng nêu rõ phải tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp mang tính đột phá, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả, hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 trên các lĩnh vực./.


Rừng Xanh Ấn Tượng Khó Phai !




Giải quyết việc làm - vấn đề cấp thiết và cơ bản:

12:49 |

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của mỗi quốc gia.
Giai quyet viec lam - van de cap thiet va co ban
Ảnh: THÁI AN
Các trung tâm giới thiệu việc làm chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu thông tin của người tìm việc làm.
Đối với nước ta giải quyết việc làm còn là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã hội đồng thời là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người.
Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước đươc giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là từ sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO). Những tồn tại chủ yếu đó thể hiện trên nhiều mặt. Cung- cầu lao động , việc làm mất cân đối lớn (cung lớn hơn cầu); tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp chỉ đạt trên, dưới 7o%; số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm còn cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc. Quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế; sự kiểm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ, chưa phát huy được vai trò của " tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động; cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội; cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đạo tạo nghề thấp, kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao. Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu nghành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi. Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém; hệ thống thông tin thị trường lao động việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm giao dich lớn đạt hiệu quả khu vực. Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên 3000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm.
Hiện nay chung ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập; di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như "chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”...
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực hiện Chiến lược phát triển KT- XH mười năm (2001- 2010), đánh giá đúng thực trạng đất nước, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra nhiệm vụ phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu chủ yếu sau đây: " Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011-2015 là 7,0- 7,5 %/năm. Năm 2015 GDP bình quân đầu người khoảng 2000 USD; cơ cấu GDP: Nông nghiệp 17- 18 %, công nghiệp và xây dựng 41- 42%, dịch vụ 41- 42 %; sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% tổng GDP. Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lươc đối với sự phát triển nhanh và hiệu quả. Phát triển công, nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn; phát triển nông nghiệp hàng hóa có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu...” Riêng với lĩnh vực giải quyết việc làm, Đại hội đề ra mục tiêu: "Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động... Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%... Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”.
Kinh nghiệm 25 năm đổi mới cho thấy, muốn tạo nhiều việc làm và khả năng thu hút lao động lớn cần phải tăng cường đầu tư và mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chế biến và dịch vụ phục vụ đời sống dân sinh.
Để thực hiện được các mục tiêu chủ yếu nói trên, việc giải quyết tốt vấn đề lao động – việc làm đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực lao động cả nước phục vụ tốt yêu cầu từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững là một đột phá chiến lược. Đồng thời phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu.
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động như: thực hiện đúng các luật về lao động, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm lao động, xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công; khắc phục tình trạng bất hợp lý với người lao động làm thuê trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và kể cả một số doanh nghiệp trong nước như hiện nay, người lao động phải được quyền hưởng lương đúng với số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra, phải được bảo đảm về chỗ ở và những điều kiện môi trường lao động, an sinh khác theo đúng luật pháp.
Hai là, phê chuẩn và thực hiện các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) liên quan đến thị trường lao động nước ta, đặc biệt là nước ta hiện nay đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế.
Ba là, phát triển mạnh khu vực dân doanh, trước hết là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nhanh tạo ra việc làm và khả năng thu hút lao động vào sản suất; phấn đấu đạt tỷ lệ trên 200 người dân có một doanh nghiệp; phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã trong nông nghiệp, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản, khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để tận dụng lao động dư thừa và lao động có ngành nghề truyền thống của nước ta, trên cơ sở đó tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động trong nông nghiệp và thị trường xuất khẩu lao động ngày càng phát triển cao hơn nữa.
Bốn là, Nhà nước cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo công nhân có trình độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa đối với lao động trẻ, khỏe, nhất là ở khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động đang có nhu cầu thu hút mạnh. Tập trung xử lý lao động dôi dư trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển đổi ngành nghề cho họ. Khắc phục tình trạng "đóng băng” trong đổi mới cơ cấu lao động làm ảnh hưởng tới sự phát triển đa dạng và chiều sâu của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển mạnh các đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công sang đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực hiện chế độ hợp đồng lao động để lao động khu vực này có điều kiện tham gia vào thị trường lao động trong nước và ngoài nước, nâng cao hiệu quả của lao động.
Năm là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước. Đây là một trong những thế mạnh của lao động nước ta về số lượng đông và trẻ. Vì vậy phải tập trung đào tạo ngoại ngữ, pháp luật cho lao động xuất khẩu, nhất là thanh niên nông thôn để tạo điều kiện cho họ tiếp cận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với những nước có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao động cho các ngành nghề sản xuất.
Sáu là, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề). Cần mở rộng đào tạo và đào tạo lại số lao động nước ta để có cơ cấu hợp lý ở 3 trình độ như trên. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động trong những năm tới. Trong đào tạo và đào tạo lại cần chuyển sang đào tạo theo định hướng nhu cầu lao động của thị trường (đào tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất) tạo khả năng cung cấp lao động có chất lượng cao về tay nghề và sức khỏe tốt, có kỹ thuật, tác phong công nghiệp, có văn hóa ... cho thị trường trong nước và thị trường ngoài nước.
Bảy là, đa dạng hóa các loại hình thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước, của tư nhân và quốc tế; áp dụng cơ chế thị trường trong dạy nghề, dần dần hình thành thị trường phù hợp với pháp luật. Thực hiện quy hoạch đầu tư tập trung hệ thống dạy nghề kỹ thuật thực hành qua lao động trực tiếp; đặc biệt là xây dựng các trường dạy nghề trọng điểm quốc gia, Đối với tỉnh, thành phố cũng phải có trường dạy nghề; các quận và huyện cũng cần có các trung tâm dạy nghề; cổ phần hóa các cơ sở dạy nghề công lập, phát triển cơ sở dạy nghề ngoài công lập để giảm chi phí ngân sách cho Nhà nước. Đa dạng hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động bằng thông qua các hệ thống thông tin, quảng cáo, trang tin việc làm trên các báo, đài và tổ chức các hội chợ việc làm để tạo điều kiện cho các quan hệ giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động ký kết các hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia và nối mạng trước hết ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, các khu vực công nghiệp tập trung và cho cả xuất khẩu lao động để giúp người lao động tìm kiếm việc làm thuận lợi nhất.
Trên đây là những giải pháp cơ bản cần được tiến hành động bộ và có hiệu quả nhất với sự nỗ lực của toàn xã hội, của toàn hệ thống chính trị trong quá trình giải quyết lao động,việc làm của nước ta trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát triển nền kinh tế nước ta, hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
PGS-TS Cao Duy Hạ

Tuyển Dụng:

08:32 |


Rừng Xanh Club: 
 Ẩm thực - CaFe - WiFi-Bóng Đá - Ca Nhạc! 


Thông tin tuyển dụng:
CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP 


  Nếu bạn là người có động lực, tự tin và sẵn sàng thử thách năng lực của bản thân, hãy gia nhập Rung Xanh Club. Bạn sẽ có cơ hội thể hiện khả năng trong một môi trường làm việc chuyên nghiệp và thân thiện, nơi sự phát triển nghề nghiệp và thăng tiến của bạn luôn được ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó bạn còn được nâng cao kiến thức, kỹ năng, chuyên môn thường xuyên qua các lớp đào tạo của câu lạc bộ Rung Xanh.  

CÁC VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG:

- 02 Bartenders/ Nhân viên phục vụ .

Yêu cầu:
    Nữ tuổi từ 18,ưa nhìn, cao 1m60 trở lên. Ưu tiên ứng viên đã học và làm trong ngành nghề Nhà hàng, Khách sạn, Du lịch, Dịch vụ.

Vui lòng gửi Hồ sơ (CV, các bằng cấp chứng chỉ liên quan) và 2 ảnh (4x6) mới nhất cho anh Trần Công Tuyển – Trưởng Phòng Nhân Sự.

Địa chỉ: Cầu Trung Linh - Trung Linh - Xuân Ngọc - Xuân Trường - NĐ 
E-mail: congtuyenpro@gmail.com
             rungxanhclub@gmail.com
Hotline: 0125.440.8989


Rừng Xanh Ấn Tượng Khó Phai !